You are hereNgữ pháp / Mệnh đề quan hệ (Relative Clause) / Mệnh đề giới hạn (restrictive clause) và mệnh đề không giới hạn (non-restrictive clause)
Mệnh đề giới hạn (restrictive clause) và mệnh đề không giới hạn (non-restrictive clause)
Một mệnh đề quan hệ (relative clause) sẽ phải ở một trong hai dạng mệnh đề giới hạn hoặc mệnh đề không giới hạn. Một mệnh đề được gọi là mệnh đề giới hạn là khi nó không thể bỏ được ra khỏi câu vì nều chúng ta bỏ nó ra khỏi câu thì câu sẽ không còn dữ được nghĩa ban đầu.
Ví dụ:
Trong câu trên, rõ ràng chúng ta không nói tới “all people” (tất cả mọi người) mà chúng ta chỉ nói đến tất cả những ai chưa có vé (who have not got a ticket). Nếu chúng ta loại bỏ mệnh đề “who have not got a ticket” thì chúng ta sẽ có câu “All people need to queue here” (Tất cả mọi người phải xếp hàng ở đây). Rõ ràng là nghĩa của câu bị thay đổi hoàn toàn. Do vậy muốn giữ nguyên nghĩa của câu chúng ta không thể loại bỏ được mệnh đề “who have not got a ticket”.
Còn mệnh đề không giới hạn là mệnh đề mà dùng để đưa thêm thông tin và nghĩa của câu sẽ không thay đổi nếu ta loại bỏ mệnh đề không giới hạn.
Ví dụ:
Trong câu trên, mệnh đề “who can speak English and French” là mệnh đề phụ dùng để cung cấp thêm thông tin về người bạn của tôi. Mệnh đề chính “My friend is standing outside” (bạn của tôi đang đứng ở ngoài) sẽ không đổi nghĩa nếu chúng ta loại bỏ mệnh đề “who can speak English and French”.
Lưu ý:
- Một mệnh đề không giới hạn sẽ được tách ra khỏi câu bằng dấu phẩy. Còn mệnh đề giới hạn thì viết liền.
- Who, Whom, và Which đều có thể dùng được trong mệnh đề giới hạn và không giới hạn
- That chỉ được dùng trong mệnh đề giới hạn
Mệnh đề giới hạn (restrictive clause) còn được gọi là “defining clause” và mệnh đề không giới hạn (non-restrictive clause) còn được gọi là “non-defining clause”.